ĐIỀU HÀNH TĂNG TRƯỞNG DỰA TRÊN BẰNG CHỨNG: TỪ TƯ DUY QUẢN LÝ THEO MỤC TIÊU ĐẾN QUẢN TRỊ THEO KẾT QUẢ

Tác giả: ThS. Nguyễn Hoàng Hải

Phó Chủ tịch Hội Kế toán TP.HCM

Tóm tắt

Bài viết phân tích yêu cầu đổi mới tư duy điều hành phát triển trong bối cảnh TP. Hồ Chí Minh đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP trên 10%. Trên cơ sở nghiên cứu tình hình thực tiễn, tác giả lập luận rằng khoảng cách lớn nhất giữa mục tiêu tăng trưởng và kết quả thực tế không nằm ở thiếu quyết tâm trong lãnh đạo, điều hành mà nằm ở phương thức tổ chức thực hiện. Nhiều giải pháp hiện nay vẫn dừng ở cấp độ định hướng, trong khi quản trị hiện đại đòi hỏi mọi chính sách phải được lượng hóa, đo lường và đánh giá bằng dữ liệu khách quan. Từ đó, tác giả đề xuất chuyển từ tư duy quản lý theo mục tiêu sang quản trị theo kết quả, xây dựng hệ thống điều hành dựa trên bằng chứng, bảng điều hành kinh tế thời gian thực (dashboard) và cơ chế trách nhiệm giải trình dựa trên chỉ số kết quả đầu ra.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh cạnh tranh giữa các đô thị ngày càng gay gắt, tăng trưởng kinh tế không còn phụ thuộc chủ yếu vào lợi thế vị trí địa lý hay nguồn lực sẵn có mà phụ thuộc ngày càng lớn vào chất lượng quản trị công. Với vai trò đầu tàu kinh tế cả nước, TP. Hồ Chí Minh vừa phải duy trì tốc độ tăng trưởng cao, vừa phải bảo đảm chất lượng phát triển, năng lực chống chịu và tính bền vững của nền kinh tế.

Mục tiêu tăng trưởng GRDP trên 10% thể hiện khát vọng phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, kinh nghiệm cho thấy các mục tiêu cao sẽ chỉ trở thành hiện thực khi được chuyển hóa thành hệ thống hành động cụ thể, có khả năng đo lường và kiểm chứng. Điều này đặt ra yêu cầu phải chuyển từ cách tiếp cận truyền thống dựa trên giao chỉ tiêu sang mô hình quản trị hiện đại dựa trên bằng chứng và kết quả đầu ra.

2. Từ định hướng điều hành đến giải pháp điều hành có thể kiểm chứng

Trong quản lý nhà nước, định hướng và giải pháp là hai khái niệm khác nhau. Định hướng trả lời câu hỏi chính quyền muốn tập trung vào đâu; giải pháp điều hành trả lời câu hỏi bằng cách nào, trong thời gian nào và tạo ra kết quả gì.

Nhiều chủ trương như đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao chất lượng đầu tư công hay cải thiện môi trường kinh doanh đều rất đúng. Tuy nhiên, nếu không gắn với các chỉ tiêu cụ thể thì rất khó đánh giá hiệu quả thực thi. Một mục tiêu như giảm thời gian cấp phép đầu tư xuống còn một nửa, nâng tỷ lệ hồ sơ đúng hạn lên 90% hoặc bảo đảm 100% thủ tục đầu tư được xử lý trực tuyến sẽ tạo ra cơ sở khách quan để giám sát và đánh giá.

Chính vì vậy, tư duy điều hành hiện đại yêu cầu mỗi chính sách phải có chỉ số đầu ra, mốc thời gian hoàn thành, cơ quan chịu trách nhiệm và cơ chế công khai kết quả. Khi đó, quản trị không chỉ là ban hành chủ trương mà còn là theo dõi quá trình thực hiện bằng dữ liệu.

3. Cơ sở lý luận của quản trị theo kết quả

Quản trị theo kết quả là phương pháp được nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế áp dụng. Trọng tâm của cách tiếp cận này là đo lường kết quả cuối cùng thay vì chỉ theo dõi hoạt động đầu vào. Thành công của chính sách không được đánh giá bằng số cuộc họp, số văn bản ban hành hay số chương trình triển khai mà bằng tác động thực tế đối với người dân, doanh nghiệp và nền kinh tế.

Trong mô hình này, chuỗi giá trị quản lý gồm đầu vào, hoạt động, đầu ra, kết quả và tác động. Cấp quản lý càng cao thì càng cần tập trung vào kết quả và tác động. Điều đó giúp hạn chế tình trạng hình thức, nâng cao trách nhiệm giải trình và tạo động lực cải tiến liên tục.

Đối với một đô thị lớn, quản trị theo kết quả còn là nền tảng cho chuyển đổi số, bởi mọi quyết định đều được hỗ trợ bởi dữ liệu, phân tích và dự báo.

4. Các động lực tăng trưởng và yêu cầu lượng hóa chính sách

Tăng trưởng kinh tế được hình thành từ nhiều động lực. Thứ nhất là tiêu dùng. Các chương trình kích cầu, phát triển kinh tế ban đêm, thương mại điện tử và du lịch chỉ thực sự có ý nghĩa khi làm tăng doanh thu bán lẻ, tăng lượng khách và mở rộng tổng cầu.

Thứ hai là đầu tư. Bên cạnh giải ngân vốn đầu tư công, cần theo dõi số dự án được khởi công, dự án đã hoàn thành, nghiệm thu đưa vào hoạt động, số vốn tư nhân được huy động và mức độ lan tỏa của các dự án hạ tầng.

Thứ ba là năng suất và đổi mới sáng tạo. Thu hút FDI chất lượng cao, phát triển kinh tế số, kết quả vận hành trung tâm tài chính quốc tế và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo phải được phản ánh bằng các chỉ số năng suất lao động, tỷ trọng kinh tế số, giá trị xuất khẩu công nghệ cao và số doanh nghiệp đổi mới sáng tạo.

Thứ tư là môi trường đầu tư. Tốc độ xử lý hồ sơ, mức độ hài lòng của doanh nghiệp, chỉ số cạnh tranh và tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến là các thước đo quan trọng phản ánh chất lượng quản trị.

5. Điều hành tăng trưởng dựa trên bằng chứng

Điều hành dựa trên bằng chứng là quá trình sử dụng dữ liệu và các phương pháp phân tích để hỗ trợ ra quyết định. Thay vì dựa chủ yếu vào kinh nghiệm hoặc cảm nhận, cơ quan quản lý sử dụng thông tin định lượng nhằm nhận diện vấn đề, đánh giá chính sách và điều chỉnh kịp thời.

Một hệ thống điều hành dựa trên bằng chứng cần dựa trên ba trụ cột. Thứ nhất là dữ liệu đầy đủ, được cập nhật liên tục. Thứ hai là năng lực phân tích, dự báo và cảnh báo sớm. Thứ ba là cơ chế phản hồi chính sách nhanh chóng.

Đối với TP. Hồ Chí Minh, việc xây dựng kho dữ liệu kinh tế tích hợp, kết nối dữ liệu doanh nghiệp, đầu tư, lao động, tài chính công và dịch vụ công sẽ giúp hình thành bức tranh thời gian thực về nền kinh tế. Đây là cơ sở để phát hiện sớm xu hướng suy giảm hoặc cơ hội tăng trưởng mới.

6. Xây dựng bảng điều hành kinh tế theo thời gian thực

Một trong những công cụ quan trọng của quản trị theo kết quả là bảng điều hành kinh tế (dashboard). Công cụ này cho phép lãnh đạo theo dõi liên tục các chỉ số cốt lõi như tăng trưởng chi tiết từng ngành, giải ngân đầu tư công, đăng ký doanh nghiệp, việc làm, thu ngân sách, xuất nhập khẩu và tiêu dùng.

Khi được kết nối với các nguồn dữ liệu số, bảng điều hành không chỉ phản ánh hiện trạng mà còn hỗ trợ dự báo. Cảnh báo sớm về chậm giải ngân, giảm cầu tiêu dùng hay sụt giảm đơn hàng xuất khẩu sẽ giúp chính quyền chủ động điều chỉnh chính sách.

Việc công khai một phần dữ liệu cũng góp phần nâng cao tính minh bạch, tạo niềm tin cho người dân và nhà đầu tư.

7. Trách nhiệm giải trình trong quản trị hiện đại

Quản trị theo kết quả không thể tách rời trách nhiệm giải trình. Khi mỗi chỉ số đều gắn với một đơn vị chịu trách nhiệm, quá trình đánh giá sẽ trở nên rõ ràng và khách quan hơn.

Cơ chế này khuyến khích các sở, ngành tập trung vào hiệu quả thực chất thay vì hình thức. Đồng thời, việc công khai kết quả định kỳ tạo điều kiện cho cộng đồng doanh nghiệp, chuyên gia và người dân tham gia giám sát.

Trách nhiệm giải trình còn giúp nâng cao chất lượng phối hợp liên ngành, bởi nhiều mục tiêu tăng trưởng đòi hỏi sự tham gia đồng thời của nhiều cơ quan khác nhau.

8. Vai trò của chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo

Chuyển đổi số tạo ra nền tảng kỹ thuật cho quản trị theo kết quả. Với dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo, các cơ quan quản lý có thể nhận diện xu hướng, mô phỏng kịch bản và đánh giá tác động chính sách với độ chính xác cao hơn.

Các mô hình phân tích dự báo có thể hỗ trợ ước tính tăng trưởng, thu ngân sách, nhu cầu lao động hay biến động thị trường. Nhờ đó, việc điều hành chuyển từ phản ứng bị động sang chủ động phòng ngừa rủi ro.

Bên cạnh lợi ích công nghệ, việc chuẩn hóa dữ liệu, bảo đảm chất lượng dữ liệu và xây dựng nguồn nhân lực phân tích là yêu cầu đặc biệt quan trọng.

9. Một số kiến nghị đối với TP. Hồ Chí Minh

Thứ nhất, công bố bộ chỉ tiêu đầu ra cho từng chương trình phát triển. 

Thứ hai, xây dựng bảng điều hành kinh tế số phục vụ quản lý theo thời gian thực. 

Thứ ba, gắn đánh giá cán bộ và cơ quan với kết quả thực hiện chỉ tiêu. 

Thứ tư, công khai tiến độ cải cách hành chính và thu hút đầu tư. 

Thứ năm, mở rộng ứng dụng dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo trong dự báo. 

Thứ sáu, thiết lập cơ chế giám sát độc lập với sự tham gia của chuyên gia, doanh nghiệp và các cơ sở nghiên cứu.

Những giải pháp này không chỉ phục vụ mục tiêu tăng trưởng trước mắt mà còn tạo dựng nền tảng quản trị hiện đại cho giai đoạn phát triển dài hạn.

Kết luận

Mục tiêu tăng trưởng GRDP trên 10% là thách thức lớn nhưng hoàn toàn khả thi nếu được hỗ trợ bởi một hệ thống điều hành khoa học. Thực tiễn cho thấy tăng trưởng bền vững không đến từ những khẩu hiệu hay định hướng chung mà đến từ các chính sách được thiết kế tốt, triển khai hiệu quả và giám sát bằng dữ liệu khách quan.

Sự chuyển dịch từ quản lý theo mục tiêu sang quản trị theo kết quả là xu hướng tất yếu của nền hành chính hiện đại. Trong mô hình này, dữ liệu trở thành tài sản chiến lược, chỉ số đầu ra trở thành cơ sở đánh giá và trách nhiệm giải trình trở thành động lực cải cách. Đối với TP. Hồ Chí Minh, đây không chỉ là phương thức thực hiện mục tiêu tăng trưởng mà còn là con đường nâng cao chất lượng quản trị, năng lực cạnh tranh và sức bật phát triển trong kỷ nguyên số.

 

 

Xem thêm
HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC CHO TĂNG TRƯỞNG XANH Ở VIỆT NAM

HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC CHO TĂNG TRƯỞNG XANH Ở VIỆT NAM

Nhu cầu của doanh nghiệp với đào tạo kế toán trong điều kiện kinh tế số hiện nay

Nhu cầu của doanh nghiệp với đào tạo kế toán trong điều kiện kinh tế số hiện nay

Thực hiện kế toán xanh ở Việt Nam: Thuận lợi, khó khăn và giải pháp

Thực hiện kế toán xanh ở Việt Nam: Thuận lợi, khó khăn và giải pháp

Nghiên cứu cơ sở lý luận về kiểm soát nội bộ trong quản lý rủi ro thuế trên cơ sở tiếp cận khung lý thuyết nền

Nghiên cứu cơ sở lý luận về kiểm soát nội bộ trong quản lý rủi ro thuế trên cơ sở tiếp cận khung lý thuyết nền

Thực trạng và giải pháp căn cơ để phục hồi và phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam bền vững

Thực trạng và giải pháp căn cơ để phục hồi và phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam bền vững

Đối tác
HAA
ACCA
CPA AUSTRALIA
ICAEW
Quảng cáo
PACE
Fast Accounting Online
CIMA
RSM DTL Auditing – Member RSM network
Tổng công ty du lịch Sài Gòn | Saigontourist
Smart Train
CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN & TƯ VẤN CHUẨN VIỆT
Đại Học Ngân Hàng - Thành Phố Hồ Chí Minh
Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh